Trang chủ » Lập dàn ý phân tích bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu
Hôm nay ngày: 21-09-2014 01:49:53

| Y?�u v?� sống

Thứ Năm, 03 11 2011 11:41

Lập dàn ý phân tích bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu

(Ngay đăng: 23-09-2013 16:14:13)
            Hot!   
(Langsao.vn) Sau đây mình xin lập dàn ý phân tích bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu. Các bạn cùng tham khảo nhé, chúc các bạn học giỏi.

I. Cảm nhận chung

1.Đề tài và cảm hứng

 

-Bài thơ được coi là tuyên ngôn về lẽ sống của nhà thơ. Tất cả mọi quan niệm ,thái độ của nhà thơ  đối với cuộc đời được phản ánh trong bài thơ.Những quan niệm ấy đặt trong mối quan hệ với không gian, thời gian và đời người.Nó không phải lí thuyết khô khan mà được diễn tả bằng cảm xúc chân thành tha thiết.

 

2 Phong cách và bút pháp nghệ thuật

 

-Đây là bài thơ thể hiện đầy đủ và đậm đà nhất phong cách thơ Xuân Diệu: hồn thơ nồng nàn sôi mổi , mạnh mẽ đến cuồng nhiệt – hồn thơ của tình yêu cuộc sống, niềm khát khao giao cảm với đời . Điều ấy được biểu hiên xuyên suốt bài thơ với những hình ảnh thơ táo bạo, cách diễn đạt lạ , mới, nhịp điệu thơ sôi nổi khẩn trương

 

- Mỗi chữ mỗi câu trong Vội Vàng đều có sức cuốn hút kì lạ . Nó ko tĩnh lặng mà cựa quậy xôn xao. Thể hiện ngay từ nhan đề bài thơ :

 

Vội Vàng vừa gợi hành động vừa gợi tâm trạng của nhà thơ trước cuộc đời. Vội Vàng để chạy đua với thời gian, để níu giữ tuổi trẻ, mùa xuân và để chống lại cả cái chết, để tận hưởng tất cả hương vị của cuộc đời

- Bài thơ Vội Vàng, nhà thơ diễn tả tình yêu cuộc sống bằng ngôn ngữ của tình yêu. Thứ ngôn ngữ ấy  khiến tình cảm nhà thơ vừa đắm say lại rất trần thế.

 

II. Phân tích

1. 4 câu đầu

 

- 4 câu thơ ngắn gọn, vang ngân một cách đĩnh đạc trang trọng :Tôi muốn…

 

- Người đọc bị bất ngờ bởi ý thơ táo bạo. Có cảm giác như thi nhân đang đi giữa đất trời với nắng và gió, với hương thơm và cỏ lạ và muốn tận hưởng tất cả.

 

-Hai điệp ngữ “tôi muốn” và điệp từ “cho” vừa là sự khẳng định vừa tạo âm điệu mạnh mẽ dứt khoát và đầy khát vọng . Nhà thơ muốn giữ nắng, giữ gió, giữ hương , quà tặng tuyệt diệu của tạo hoá ban cho con người .Nắng tắt thì ngày sẽ tàn ,gió bay sẽ đưa hương đi, nhà thơ muốn níu giữ thời gian trở lại

 

- Ko chỉ mong muốn khát khao câu thơ còn chứa đựng cả sự khẩn cầu của nhà thơ: Đừng nhạt mất- đừng bay đi. sự khẩn cầu ấy lặp 2 lần trong đoạn như muốn diễn tả niềm thiết tha của nhà thơ trứơc vẻ đẹp cuộc đời.

 

- Có lẽ hơn ai hết nhà thơ Xuân Diệu hiểu rằng những điều ông muốn , ông khát vọng trái ngược với qui luật khắc nghiệt của tạo hoá. Cũng như sau này khi là nhà thơ của CM XD đã mơ ước có trăm vạn bàn tay, có trăm vạn trái tim để ôm trọn MN vào lòng

 

-Như vậy chỉ 4 câu thơ đầu XD đã nói một cách đầy đủ nhất cảm xúc chủ đạo của bài thơ : vv để níu giữ vẻ đẹp của trần thể , níu giữ thời gian

 

2. Từ câu 5 đến câu 12

 

-Nhà thơ phát hiện một thiên đường trên mặt đất: bướm ong , hoa lá ,cỏ cây.Đó là những h/a đẹp nhất chốn vườn trần.

 

- Nếu như các nhà thơ mới khác hoàn toàn mất vị trí , định hướng trong không gian địa lí và ko gian tinh thần đi tìm niềm vui trong một thế giới khác: Chốn bồng lai tiên cảnh hay tháp ngà tình yêu thậm chí quay về quá khứ đắm chìm trong điên loạn thì XD ko chấp nhận lối thoát tiêu cực ấy, ông muốn chỉ cho chúng ta vẻ đẹp của cuộc đời trần thế, Điệp từ “Này đây” lặp nhiều lần , vừa liệt kê vừa như bày ra trước mắt người đọc những mốn ăn mà tạo hoá ban cho con người. âm điệu “này đây” mỗi lúc một mạnh cho thấy sự hấp dẫn kì diệu, sức cuốn hút lạ lùng của một thế giới tưởng như bình thường.

 

- Thế giới ấy ngày nào ta cũng thấy , cũng qua vậy mà XD khiến chúng ta phải ngạc nhiên như lần đầu mới gặp. XD đã nhìn t/g ấy bằng cặp mắt “xanh non, biếc rờn” để khám pha những bí ẩn của nó.Thiên đường ấy giàu có và phong phú vô cùng : Đồng nội xanh rf, cành tơ phơ phất ,ánh sáng ..

 

Mỗi hình ảnh , sợ vật đều toát lên sự sống mãnh liệt, sự trẻ trung hấp dẫn đồng thời thể hiện cái nhìn đầy thiện cảm, háo hớc của nhà thơ trước cuộc đời trần thế.

 

- XD cũng mang cái buồn chung của thế hệ các nhà thơ mới, nhưng XD khác họ ở chỗ ko nhjnf t/g  màu tang  tóc buồn thương, trước sau XD vẫn là người yêu cuộc sống, và nếu có buồn chăng nữa cũng là bởi ko được hưởng tất cả vẻ đẹp cuộc sống mà thôi.

 

- Đoạn thơ với hàng loạt những từ gợi cảm :Ong bướm, yến anh, tuần tháng mật , khúc tình si, cặp môi gần. XD nhìn c/s bằng cặp mắt của tình yêu. Ong bướm, yến anh là những h/a tượng trưng cho ty, hạnh phúc lứa đôi. Tuần trăng mật gợi sự sung mãn, tròn đầy của hạnh phúc. Khúc tình si là cụm từ gợi được nhạc điệu say mê, du dương đắm đuối của ty.

 

XD nói về ty bao giờ cũng như một thứ t/c mãnh liệt, tuyệt diệu nhất. Nó vừa trần thế, vừa tinh khôi, vừa đồi hỏi một cách vô biên vừa tận hưởng tuyệt đích. Còn trong bài thơ này, nói về c/s bàng ngôn ngữ ty, Xd như muốn nhắc nhở chúng ta một diều vô cùng quan trọng: CS cũng đẹp đẽ, đắm say như ty đôi lứa. Nói một cách khác, trong thiên đường nơi trần thế, tuổi trẻ ty vẫn là thứ đáng trân trọng nhất.

 

- Với nhà thơ, thiên đường trần thế lúc nào cũng là mùa xuân. Thời khắc lưu lại nhiều hương sắc xuân nhất chính là tháng giêng: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần. Mùa xuân, tháng giêng đồng nghĩa với sự trẻ trung, ắp đầy hạnh phúc. . Cách so sánh ở đây thật táo bạo, mới mẻ. Mùa xuân là từ dùng chỉ thời gian. Thời gian được coi như có hình khối đường nét rõ ràng. Hơn thấ nữa lại là hình ảnh tượng trung cho một ty yêu rõ ràng nhất. Thêm vào đó tháng giêng còn được cảm nhận bằng vị giác: ngon; được cảm nhận bằng khoảng cách: gần. Phải chăng về điểm này mà XD được coi là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới. Và như vậy, thời gian đã được XD ty hoá, cuộc sống đã được ty hoá sao cho tràn trề hphúc. CS, ty ở đay có hình khối đường nét cụ thể, có hương vị ngọt ngào say đắm. Chỉ có XD mới có cách cảm nhận độc đáo, riêng biệt như vậy. Trong thơ xưa, thi nhân thường lấy thiên nhiên làm chuẩn mực của mọi vẻ đẹp, trong đó có vẻ đẹp con người. Với XD thì ngược lại. Ông lấy vẻ đẹp của con người trần thế làm chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp. Chỉ có con người là lung linh, nhất là đẹp nhất. Đây chính là quan niệm tiến bộ đầy chất nhân văn của nhà thơ về nhân sinh, về ty và hp. Vẻ đẹp ấy của con người như lan toả ra cỏ cây, hoa lá, chim muông. Có thể nói, thiên nhiên trong thơ XD lúc này đã được con người hoá: ánh sáng chớp hàng mi, yến anh say khúc tình si… Mọi sự cựa quậy, sinh sôi của tạo vật gắn liền với sinh hoạt của con người. Sức xuân như đang trào dâng mãnh liệt nhất ở mọi lúc mọi nơi, mọi cảnh mọi vật và đặc biệt ở trong con người.

 

- Lắng sâu trong âm hưởng thơ là hồn thi nhân sung sướng mãn nguyện, mở rộng tấm lòng đón nhận tất cả những âm vang của đời. Mọi âm sắc, đường nét như được tận hưởng trọn vẹn bởi tấm lòng khao khát yêu cuộc sống của nhà thơ. TG viết: Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa. Câu thơ tự nó đã tách ra làm đôi. Nửa thứ nhất vơi ba âm tiết vanh lên và khép lại cả thế giới thần tiên mà nhà thơ đã diễn tả ở trên. Nửa còn laị mở ra một trạng thái khác mà ranh giới chính là từ nhưng. Sau từ đó chính là một nốt lặng diễn tả cái sững sờ, bối rối của nhà thơ. Cái vội vàng một nửa ấy vừa là ham muốn được tận hưởng, vừa diễn tả một chút lo sợ, một chút hãi hùng. Nửa câu thơ ấy như là một ciếc bản lề đẻ nối tiếp ý thơ của phần sau. Xd đã tự đặt ty, cs của mình trong mqhệ với thời gian, đời người và thực sự cảm thấy hốt hoảng, bất lực. Tgian vẫn tuần hoàn, đời người một đi ko trở lại, đặc biệt là tuổi xuân càng ko hai lần thắm lại. Từ nỗi lo lắng đến bàng hoàng này, nha thơ đã lý giải sự cuống quýt, vội vàng của mình ở khổ thơ sau. Và nếu xem bài thơ có kết cấu luận đề, thì câu thơ: Tôi sung sướng nhưng… là một phân giải giữa nguyên nhân và hệ quả. Vì quá đắm say c/đời mà cuộc đời ko thể chờ đợi bất cứ điều gì thì chỉ còn một cách tận hưởng cho no nê, đã đầy tất cả mọi hương thơm trái ngọt mà tạo hoá ban tặng. Toàn bộ phần còn lại của thi phẩm minh chúng cho nhan đề của chính nó.

 

3.Từ câu 13 đến câu 30

 

- Diễn tả tâm trạng hoài xuân của thi nhân

 

- Sống giữa mùa xuân , cuộc đời tuổi trẻ , thiên nhiên mà lòng ko hề thanh thản: Tôi ko chờ….

 

Đang giữa ngày xuân nhưng t/g vẫn nghĩ rằng đến một ngày xuân qua hạ tới.Có nghĩa là nhà thơ luôn đăth mình trong dòng chảy bất tận của thời gian mà ham muốn, mà yêu cuộc sống, mà ngẫm mghĩ về cái hữu  hạn của đời người.

 

- Với nhà thơ khát vọng nứu giữ t/g chỉ là khát vọng. Nhà thơ luôn cảm thấy bước đi của t/g lạnh lùng và khắc nghiệt : xuân tới, xuân qua , xuân non , xuân già. Và cả mùa xuân của đời người cũng đương qua.Điều này cho thấy trong thơ XD luôn có một quan niệm mới về thời gian . thời gian ko tuần hoàn, không tĩnh lặng như trong thơ trung đại “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại”.Thời gian là dòng chảy vô cùng vô tận. Không ai có thể uống nước 2 lần trên một dòng sông.Đời người cũng vậy, cháy trôi trong Sinh- lão –bệnh – tử. Đời người thật hữu hạn trước cái vô cùng vô tận của thời gian.

 

- Xuân Diệu ko tin và thuyết nhân quả và hồi sinh của đạo phật.Ông luôn ám ảnh bởi mùa xuân sẽ qua đi ko bao giờ trở lại. Con người sẽ vĩnh viễn trở về cát bụi, cảm nhận điều đó, nhà thơ quay ra hờn trách tạo hoá: Nói làm chi…còn tôi mãi”

 

Sự trách móc ấy thực ra là những cảm xúc của nhà thơ đã lên tới đỉnh điểm với khát vọng muốn phá tung tất cả mọi giới hạn của đời sống và cả  những quy luật khắt khe của đời sống đẻ trường tồn , bất tử .

 

- Trong cảm hứng nuối tiếc xót xa ấy, nhà thơ tiếp tục diễn tả tâm trạng hoài xuân của mình :Còn trời đất… Phải chăng …sắp sửa.

 

Thế giới đang rộng mở trước mắt chúng ta với núi sông, lá biếc, gió xinh, hoa nở chim hót..Nhưng giờ đây ko phải là bức tranh sự sống, nhà thơ cảm nhận thiên nhiên , đất trời tạo vật cũng có tâm trạng như chính mình.Chúng cũng linh cảm thấy sự chia phôi, sự tiễn biệt, phai tàn sắp sửa xảy ra. chúng dường như cũng đang hờn giận trách móc tạo hoá.

 

Cái nhìn thời gian cái nhìn cảnh vật xung quanh cho thấy nỗi sợ hãi trong tâm hồn nhà thơ .Nó ko còn mơ hồ nữa mà trở nên rõ nét, rõ ràng ,và hùng hồn hơn. Nỗi sợ của con người ham sống.

 

4. Phần còn lại của bài thơ Vội Vàng.

 

- Giọng điệu của đoạn thơ đột ngột thay đổi. ở đoạn trên là âm hưởng trầm buồn nay trở nên cuống quýt, vội vã, sôi nổi.

 

- Cảm xúc thơ ở đây là hệ quả tất yếu của những nhận thức về tgian ở đoạn trên. Đặt mình giữa dòng chảy của tgian mà tiếc cho cuộc đời ko thể kéo dài, đồng thời Xuân Diệu cũng ko muốn một cuộc sống vô nghĩa. Nhà thơ như giục giã chính mình: Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm. Mau đi thôi để chạy đua với tgian, chạy đua cùng tuổi trẻ cùng màu xuân cua rcuộc đời. Nhà thơ sợ chiều tà ngả bóng, sợ tuổi già, sợ tuổi xế chiều một mình với chiếc bóng âm thầm lặng lẽ, sống mà chỉ như tồn tại, ko hưong sắc, ko tình yêu… Cảm xúc này còn được XD thể hiện ở nhiều bài thơ khác, nhất là những bài thơ nói về ty.

 

Mau lên chứ vội vàng lên với chứ

Em em ơi tình non sắp già rồi

Mau lên chứ vội vàng lên với chứ

Em ơi em anh rất sợ ngày mai


Khát vọng cháy bỏng ấy đã khiến nhà thơ tự đề cho mình một phong cách sống:


Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối

Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm

Đây là một tuyên ngôn sống đúng nghĩa với với tâm hồn XD. Đây cũng là phong cách  riêng  của XD trong thi ca.

 

Ba chữ Ta muốn ôm được tách ra thành một dòng thơ rất ngắn nhưng lại nư một sự dồn nén cảm xúc. Giọng thơ cũng hết sức trang nghiêm, đĩnh đạc nhưng vẫn ko giấu nổi cảm xúc dâng trào. Vẫn là cảm xúc dâng trào nhưng tg ko dùng đại từ Tôi mà dùng chữ Ta. Cái tôi cá nhân đã trở thành cảm xúc chung của cả một thế hệ. Mặt khác cái tôi ấy dường như còn nhỏ bé, cô đơn nên Xuân Diệu muốn có cái ta mênh mang rộng lớn.  Dù như vậy Tg vẫn thấy chưa thật đủ . Dù đã hoà mình vào thế giới của đam mê, của đắm say, rạo rực, đang vận động ko ngừng cùng nhịp sống Xuân Diệu vẫn còn khao khát. Cái tham tham đầy cá tính và nhân bản ấy là biểu hiện của một ý thức đúng đắn về cuộc sống.

 

- Khi hiểu giá trị đích thực của cuộc sống XD muốn dang đôi tay bé nhỏ của mình đê ôm trọn yêu thương của đời. Khát vọng lớn lao ấy được nhà thơ thể hiện qua điệp từ Ta muốn và mỗi lần nhắc lại là một lần cảm xúc dồn nén hơn, dâng trào hơn.

 

Nhà thơ Thế Lữ, trong lời Tựa cho tập Thơ Thơ của Xuân Diệu, đã có nhận xét khá tinh tế: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian” . Đã hơn hai mươi năm Xuân Diệu giã từ chúng ta vào cõi hư vô, nhưng “tấm lòng trần gian” của ông dường như vẫn còn ở lại. Cứ mỗi lần xuân tới, những trái tim non trẻ của các thế hệ học sinh lại rung lên những cảm xúc mãnh liệt trước tâm tình của Xuân Diệu gửi gắm với đời trong bài thơ Vội vàng, gắn với niềm khát khao giao cảm với đất trời, con người tràn mê đắm của thi nhân, trong mùa xuân diệu kì!

 

Làm thơ xuân vốn là một truyền thống của thi ca Việt Nam, bao nét xuân đi vào thi ca đều mang một dấu ấn cảm xúc riêng. Đặc biệt, trong thơ lãng mạn Việt Nam 1932 – 1945, mùa xuân còn gắn với cái tôi cá nhân cá thể giàu cảm xúc của các nhà thơ mới. Có thể kể đến một Hàn Mặc Tử với “khách xa gặp lúc mùa xuân chín…”, một Nguyễn Bính với “mùaxuân là cả một mùa xanh…”. Nhưng có lẽ Xuân Diệu chính là người đã đem vào trong cảm xúc mùa xuân tất cả cái rạo rực đắm say của tình yêu. Vội vàng là lời tâm tình với mùa xuân của trái tim thơ tuổi hai mươi căng nhựa sống.

 

Cái động thái bộc lộ đầy đủ nhất thần thái của Xuân Diệu có lẽ là vội vàng. Ngay từ hồi viết Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã thấy “Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuốn quýt”. Cho nên, đặt cho bài thơ rất đặc trưng của mình cái tên Vội vàng, hẳn đó phải là một cách tự bạch, tự họa của Xuân Diệu. Nó cho thấy thi sĩ rất hiểu mình.

 

Thực ra, cái điệu sống vội vàng, cuống quýt của Xuân Diệu bắt nguồn sâu xa từ ý thức về thời gian, về sự ngắn ngủi của kiếp người, về cái chết như là một kết cục không tránh khỏi mai hậu. Sống là cả một hạnh phúc lớn lao diệu kỳ. Mà sống là phải tận hiến và tận hưởng! Đời người là ngắn ngủi, cần tranh thủ sống. Sống hết mình, sống đã đầy. Thế nên phải chớp lấy từng khoảnh khắc, phải chạy đua với thời gian. Ý thức ấy luôn giục giã, gấp gáp. Bài thơ này được viết ra từ cảm niệm triết học ấy.

 

Thông thường, yếu tố chính luận đi cùng thơ rất khó nhuần nhuyễn. Nhất là lối thơ nghiêng về cảm xúc rất “ngại” đi cùng chính luận. Ấy thế nhưng nhu cầu phô bày tư tưởng, nhu cầu lập thuyết lại không thể không dùng đến chính luận. Thơ Xuân Diệu hiển nhiên là loại thơ xúc cảm. Nhưng đọc kỹ sẽ thấy rằng thơ Xuân Diệu cũng rất giàu chính luận. Nếu như cảm xúc làm nên cái nội dung hình ảnh, hình tượng sống động như mây trôi, nước chảy trên bề mặt của văn bản thơ, thì dường như yếu tố chính luận lại ẩn mình, lặn xuống bề sâu, làm nên cái tứ của thi phẩm. Cho nên mạch thơ luôn có được vẻ tự nhiên, nhuần nhị. Vội vàng cũng thế. Nó là một dòng cảm xúc dào dạt, bồng bột cuốn theo bao hình ảnh thi ca như gấm như thêu của cảnh sắc trần gian. Nhưng nó cũng là một bản tuyên ngôn bằng thơ, trình bày cả một quan niệm nhân sinh về lẽ sống vội vàng. Có lẽ không phải thơ đang minh họa cho triết học. Mà đó chính là minh triết của một hồn thơ.

 

Mục đích lập thuyết, dạng thức tuyên ngôn đã quyết định đến bố cục của Vội vàng. Thi phẩm khá dài nhưng tự nó hình thành hai phần khá rõ rệt. Cái cột mốc ranh giới giữa hai phần đặt vào ba chữ “Ta muốn ôm”. Phần trên nghiêng về luận giải cái lí do vì sao cần sống vội vàng. Phần dưới là bộc lộ cái hành động vội vàng ấy. Nói một cách vui vẻ: trên là lý thuyết, dưới là thực hành! Điều rất dễ thấy là thi sĩ chọn cách xưng hô cho từng phần. Ở trên, xưng “tôi”, lập thuyết đối thoại với đồng loại. Ở dưới, xưng “ta”, đối diện với sự sống. Phần luận lí có xu hướng cắt xẻ bài thơ. Nhưng hơi thơ bồng bột, giọng thơ dào dạt, sôi nổi đã xóa mọi cách ngăn, khiến thi phẩm vẫn luôn là một chỉnh thể sống động, tươi tắn và truyền cảm.

 

Mở đầu bài thơ là một khổ ngũ ngôn thể hiện một ước muốn kì lạ của thi sĩ. Ấy là cái ước muốn quay ngược quy luật tự nhiên – một ước muốn không thể:

 

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi.

 

Muốn “tắt nắng”, muốn “buộc gió”, thật là những ham muốn kỳ dị, chỉ có ở thi sĩ. Nhưng làm sao cưỡng được quy luật, làm sao có thể vĩnh viễn hóa được những thứ vốn ngắn ngủi mong manh ấy? Cái ham muốn lạ lùng kia đã hé mở cho chúng ta một lòng yêu bồng bột vô bờ đối với cái thế giới thắm sắc đượm hương này.

 

Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận theo một cách riêng. Nó bày ra như một thiên đường trên mặt đất, như một bữa tiệc lớn của trần gian. Được cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình. Cái thiên đường sắc hương đó hiện ra trong Vội vàng vừa như một mảnh vườn tình ái, vạn vật đương lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người tình đầy đắm say. Xuân Diệu cũng hưởng thụ theo một cách riêng. Ấy là hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ ái tình. Yêu thiên nhiên mà thực chất là tình tự với thiên nhiên.

 

Hãy xem cách diễn tả vồ vập về thiên nhiên ở thì xuân sắc, một thiên nhiên rạo rực xuân tình:

 

Của ong bướm này đây tuần tháng mật,

Này đây hoa của đồng nội xanh rì,

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si,

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.

Mỗi sáng sớm thần Vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

 

Có lẽ trước Xuân Diệu trong thơ Việt Nam chưa có cảm giác “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Nó là cảm giác của ái ân tình tự. Cảm giác ấy đã làm cho người ta thấy tháng giêng mơn mởn non tơ đầy một sức sống thanh tân kia mà sao quyến rũ – tháng giêng mang trong nó sức quyến rũ không thể cưỡng được của một người tình rạo rực, đắm say.

 

Hai mảng thơ đầu kế tiếp nhau đã được liên kết bằng cái logic luận lí ngầm của nó. Thi sĩ muốn “tắt nắng”, “buộc gió” chính vì muốn giữ mãi hương sắc cho trần thế này đây. Hương sắc là cái sinh khí của nó, là cái vẻ đẹp, cái nhan sắc của nó. Tất cả chỉ rực rỡ trong độ xuân thì. Mà xuân lại vô cùng ngắn ngủi. Và thế là mảng thơ thứ ba của phần luận giải đã hình thành để nói về cái ngắn ngủi đến tàn nhẫn của xuân thì đối với sự sống và cái xuân thì của con người. Phải, cái thế giới này lộng lẫy nhất, “ngon” nhất là ở độ xuân; còn con người cũng chỉ hưởng thụ được cái “ngon” kia khi còn trẻ thôi. Mà cả hai đều vô cùng ngắn ngủi, thời gian sẽ cướp đi hết thảy. Có lẽ cũng lần đầu tiên, thơ ca Việt Nam có được cái quan niệm này:

 

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn no nghĩa là xuân sẽ già.

 

Con người thời trung đại hình như yên trí với quan niệm thời gian tuần hoàn với cái chu kỳ bốn mùa, cũng như cái chu kì ba vạn sáu ngàn ngày của kiếp người. Con người hiện đại sống với quan niệm thời gian tuyến tính, thời gian như một dòng chảy mà mỗi một khoảnh khắc qua là mất đi vĩnh viễn. Cho nên Xuân Diệu đã nồng nhiệt phủ định:

 

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại !

 

Thước đo thời gian của thi sĩ là tuổi trẻ. Tuổi trẻ một đi không trở lại thì làm chi có sự tuần hoàn !

 

Trong cái mênh mông của đất trời, cái vô tận của thời gian, sự có mặt của con người thật là ngắn ngủi, hữu hạn. Nghĩ về tính hạn chế của kiếp người, Xuân Diệu đã đem đến một nỗi ngậm ngùi thật mới mẻ:

 

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

 

Và đem đến một cảm nhận đầy tính lạ hóa về thời gian và không gian:

 

Mùi tháng năm đền rớm vị chia phôi

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…

 

Là người đã tiếp thu ở mức nhuần nhuyễn phép “tương giao” của lối thơ tượng trưng, Xuân Diệu đã phát huy triệt để sự tương giao về cảm giác để cảm nhận và mô tả thế giới. Thời gian được cảm nhận bằng khứu giác: “Mùi tháng năm” – thời gian của Xuân Diệu được làm bằng hương – chẳng thế mà thi sĩ cứ muốn buộc gió lại ư? Một chữ “rớm” cho thấy khứu giác đã chuyển thành thị giác. Nó nhắc ta nhớ đến hình ảnh giọt lệ. Chữ “vị” liền đó, lại cho thấy cảm giác thơ đã chuyển qua vị giác. Và đây là một vị hoàn toàn phi vật chất: “vị chia phôi” ! Thì ra chữ “rớm” và chữ “vị” này đều từ một hình ảnh ẩn hiện là giọt lệ chia phôi đó. Vì sao thời gian lại mang cái hương vị - hình thể của chia phôi? Ấy là những cảm giác chân thực hay chỉ là trò diễn của ngôn ngữ theo kịch bản của phép “tương giao”? Cái tinh tế của Xuân Diệu chính là ở đấy ! Thi sĩ cảm thấy thật hiển hiện mỗi khoảnh khắc đang lìa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ thật sự là một cuộc ra đi vĩnh viễn. Trên mỗi thời khắc đều đang diễn ra một cuộc chia tay của thời gian với con người, với không gian và với cả chính thời gian. Cho nên thi sĩ nghe thấy một lời than luôn âm vang khắp núi sông này, một lời than vĩnh viễn: than thầm tiễn biệt. Không gian đang tiễn biệt thời gian ! Và thời gian trôi đi sẽ khiến cho cái nhan sắc thiên nhiên diệu kỳ này bước vào độ tàn phai. Một sự tàn phai không thể nào tránh khỏi !

 

Thế đấy, không thể buộc gió, không thể tắt nắng, cũng không thể cầm giữ được thời gian, thì chỉ có cách thực tế nhất là chạy đua với thời gian, là phải tranh thủ sống:

 

Chẳng bao giờ, ôi ! Chẳng bao giờ nữa…

Mau đi thôi ! Mùa chưa ngả chiều hôm

 

Đến đây phần luận giải của tuyên ngôn vội vàng đã đủ đầy luận lý !

 

Bài thơ được kết thúc bằng những cảm xúc mãnh liệt, bằng những tham muốn mỗi lúc một cuồng nhiệt , vồ vập. Đó là cả một cuộc tình tự với thiên nhiên, ái ân cùng sự sống. Chỉ có thể diễn tả như thế, Xuân Diệu mới phô diễn được cái lòng ham sống, khát sống sung mãn của mình:

 

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !

 

Nếu chọn một đoạn thơ trong đó cái giọng sôi nổi bồng bột của Xuân Diệu thể hiện đầy đủ nhất, thì đó phải là đoạn thơ này. Ta có thể nghe thấy giọng nói, nghe thấy cả nhịp đập của con tim Xuân Diệu trong đoạn thơ ấy. Nó hiện ra trong những làm sóng ngôn từ đan chéo nhau, giao thoa và song song vỗ vào tâm hồn người đọc. Cái điệp ngữ “ta muốn” được lặp đi lặp lại với mật độ thật dày và cũng thật đích đáng. Nhất là mỗi lần điệp lại đi liền với một động thái yêu đương mỗi lúc một mạnh mẽ, mãnh liệt, nồng nàn: ôm – riết – say – thâu – cắn. Có thể nói câu thơ “Và non nước, và cây, và cỏ rạng” là không thể có đối với thư pháp trung đại vốn coi trọng những chữ đúc. Thậm chí, đối với thơ xưa, đó sẽ là câu thơ vụng. Tại sao lại thừa thãi liên từ “và” đến thế ? Vậy mà, đó lại là sáng tạo của nhà thơ hiện đại Xuân Diệu. Những chữ “và” hiện diện cần cho sự thể hiện nguyên trạng cái giọng nói, cái khẩu khí của thi sĩ. Nó thể hiện đậm nét sắc thái riêng của cái tôi Xuân Diệu. Nghĩa là thể hiện một cách trực tiếp, tươi sống cái cảm xúc tham lam đang trào lên mãnh liệt trong lòng ngực yêu đời của thi sĩ !

 

Câu thơ:

 

Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

 

cũng tràn đầy những làn sóng ngôn từ như vậy. Từ “cho” điệp lại với mức độ tăng tiến nhấn mạnh các động thái hưởng thụ thỏa thuê: chuếnh choáng – đã đầy – no nê. Sóng cứ càng lúc càng dâng cao, càng vỗ mạnh, đẩy cảm xúc lên tột đỉnh:

 

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !

 

Ta thấy Xuân Diệu như một con ong hút nhụy đã no nê đang lảo đảo bay đi. Lại thấy thi sĩ như một tình lang trong cuộc tình chuếnh choáng men say.

 

Có thể nói Xuân Diệu qua bài thơ này không chỉ "sống" hay "ham sống" mà ông "say sống". Sống mãnh liệt, hối hả kẻo nữa lại tiếc nuối - Đó là một nhân sinh quan lành mạnh. Nó khác với sự nguội lạnh, hờ hững, lạt lẽo. Bài thơ là nhịp đập gấp gáp trước "thanh sắc trần gian" một ngày xuân của một trái tim chưa bao giờ chán sống.

Sống là hạnh phúc. Muốn đạt tới hạnh phúc phải sống vội vàng. Thế là, vội vàng là cách đến với hạnh phúc, là chính hạnh phúc, và hình như cũng là cái giá phải trả cho hạnh phúc vậy ! Ta hiểu vì sao khi Xuân Diệu xuất hiện, lập tức thi sĩ đã thuộc về tuổi trẻ !

Nguồn: Lính Chì

cach lam trang da  |   lang sao  |   cach lam dep  |   cach trang diem  |   tam su ban gai  |   thong tin suc khoe  |   cach nau an ngon